Hậu cổ phần hóa: Doanh nghiệp cần “đòn bẩy” tài chính

Cập nhật, 08:21, Thứ Sáu, 08/06/2012 (GMT+7)

Hiệu quả của cổ phần hóa là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, hậu cổ phần hóa, các DNNN vẫn cần những đòn bẩy tài chính để tiếp tục thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

CPH đi liền với tăng doanh thu, lợi nhuận

Những năm qua, cùng với các hình thức như giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê các DNNN, sáp nhập, giải thể, phá sản các DNNN kinh doanh yếu kém, thua lỗ thì cổ phẩn hóa (CPH) đã trở thành một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình tổ chức, sắp xếp lại DNNN. Báo cáo của Ban Đổi mới DNNN cho thấy sau CPH, 96% doanh nghiệp có kết quả quản lý tốt hơn, 88% tăng năng suất lao động khi áp dụng chế độ thưởng dựa trên thành quả lao động.

Đoạn Xá là một trong những doanh nghiệp cổ phần kinh doanh khai thác cảng hiệu quả
Đoạn Xá là một trong những doanh nghiệp cổ phần kinh doanh khai thác cảng hiệu quả

Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, đi liền với CPH là mức tăng đáng kể cả về lợi nhuận, doanh thu bán hàng, hiệu quả và thu nhập của người lao động. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh rằng quy mô doanh nghiệp, phần sở hữu của nhà nước, quản trị doanh nghiệp và việc niêm yết trên thị trường chứng khoán là những nhân tố quyết định cải thiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Tương tự, khảo sát của nhóm tư vấn chính sách - Bộ Tài chính cho thấy kết quả kinh doanh sau CPH của các doanh nghiệp đều rất tốt. Tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ trong các doanh nghiêp dù đã giảm hơn so với thời điểm cổ phần hóa nhưng so với tổng số doanh nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ 46%.

Doanh nghiệp có vốn nhà nước nắm giữ dưới 50% vẫn giữ nguyên tỷ trọng là 39%. Việc nhà nước duy trì tỷ lệ cổ phần đa số vô hình chung đã tạo ra một số khó khăn trong việc điều hành của các DN CPH.

Cụ thể, CPH vẫn chưa tạo ra được sự rạch ròi giữa quyền QLNN và quyền sở hữu vì nhà nước là người ban hành các quy định, vừa là cổ đông lớn. Khi sở hữu đa số cổ phần, những người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp có quyền phủ quyết các quyết định quản lý và đầu tư quan trọng. Điều này dễ dẫn đến trường hợp can thiệp một cách duy ý chí vào hoạt động điều hành của doanh nghiệp.

Hậu CPH, cần “đòn bẩy” tài chính

Có thể khẳng định, các DNNN sau khi CPH đã, đang và sẽ còn là bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Bà Lê Thị Thanh Huyền (Viện Chiến lược và Chính sách tài chính) cho rằng, các tiếp cận chính sách mới là cần tăng cường hiệu lực quản lý các doanh nghiệp này, tách biệt 2 vai trò chủ sở hữu và quản lý, điều tiết của nhà nước. Bà Huyền cũng cho rằng, Chính phủ cần xác định một chính sách rõ ràng cho mình với tư cách là chủ sở hữu với các mục tiêu cụ thể.

Để giúp các DNNN sau CPH, các biện pháp của Chính phủ cần tập trung nâng cao năng suất chứ không phải lợi nhuận trong ngắn hạn. Các DNNN sau CPH cần phải chịu áp lực cạnh tranh giống như các thành phần kinh tế khác trên mọi khía cạnh và thị trường, kể cả vốn. Các doanh nghiệp này cũng phải chịu sự điều chỉnh của quy luật và kỷ luật thị trường.

Trong khi CPH vẫn là chính sách ưu tiên trong trung hạn, việc cấp thiết trước mắt là cần áp dụng các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp hiện đại đối với các doanh nghiệp này, đặc biệt là những chuẩn mực về công bố và minh bạch thông tin, quản lý rủi ro... Các giải pháp về việc giám sát, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải được đặc biệt quan tâm. Cùng với đó, phải phát triển mạnh thị trường cổ phiếu và trái phiếu Việt Nam nhằm tăng cường việc huy động vốn và trái phiếu của các doanh nghiệp, tạo động lực cho việc nâng cao năng lực quản trị trong các doanh nghiệp.

Sau gần 20 năm triển khai, việc CPH DNNN đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, việc đưa các DNNN CPH chỉ mới bước đầu của sự cải cách. Bà Huyền cho rằng, việc thực hiện các giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này mới gọi là bước quan trọng tiếp theo.

Ngân Anh

.
.
.