Tiếp tục nâng cao vai trò hoạt động KHCN ngành GTVT

Cập nhật, 00:35, Thứ Hai, 25/04/2011 (GMT+7)

Đó là chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng tại Hội nghị Tổng kết hoạt động Khoa học Công nghệ giai đoạn 2005-2010, định hướng hoạt động đến năm 2015 của ngành GTVT được tổ chức vào ngày 22/4/2011 tại Hà Nội.

Cán bộ ngành GTVT trình độ đạt tầm khu vực và từng bước tiếp cận thế giới

Cùng với các nội dung đã tiến hành tại các phiên họp tại các Tiểu ban chuyên ngành xây dựng công trình giao thông; Tiểu ban Cơ khí - Điện - Điện tử - Công nghệ thông tin; Tiểu ban Kinh tế - Vận tải - Y tế - Môi trường - ATGT, trong đó nhiều báo cáo khoa học có ý nghĩa học thuật, nghiên cứu chuyên sâu, bám sát và phục vụ có hiệu quả cho thực tế sản xuất của ngành GTVT đã được các tác giả trong và ngoài nước trình bày.

Tại phiên họp toàn thể, Hội nghị đã tiếp tục nghe Báo cáo tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động KHCN ngành GTVT giai đoạn 2005-2010 và định hướng cho giai đoạn 2011-2015 cũng như một số báo cáo của đại diện các Tổng cục, Cục quản lý chuyên ngành, các đơn vị nghiên cứu, sản xuất.

Các báo cáo tham luận tại Hội nghị đã nêu lên các thành tựu thể hiện tính đúng đắn của định hướng phát triển KHCN đến 2020, mục tiêu và lộ trình đổi mới công nghệ đã được Bộ GTVT xây dựng, khẳng định lại vai trò đóng góp xứng đáng của công tác KHCN trong việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KHCN; lựa chọn nghiên cứu phát triển các công nghệ tiên tiến phù hợp áp dụng vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, tạo được sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có chất lượng, giá thành hạ, đủ sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định cơ chế, chính sách, hệ thống quy phạm, pháp luật quản lý chuyên ngành phù hợp với sự phát triển của cơ chế thị trường có định hướng XHCN góp phần quyết định vào tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững của Ngành trong thời gian qua.

Việc hoàn toàn tự chủ ứng dụng thành công các công nghệ hiện đại trong xây dựng công trình giao thông như: cầu dây văng nhịp lớn (270m) ở Rạch Miễu, cầu bê tông cốt thép dự ứng lực nhịp lớn (150m) ở cầu Hàm Luông, cầu có trụ cao 97,5m ở cầu Pá Uôn, đường ôtô cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương, sân bay Cần Thơ, Phú Quốc, cảng Cái Lân, Tiên Sa, chế tạo các sản phẩm tàu thủy cỡ lớn 100.000 - 150.000 T, sản phẩm công nghiệp và sửa chữa ôtô, cơ khí đường sắt, công nghệ thông tin... đã khẳng định trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân ngành GTVT hiện nay đạt tầm khu vực và đang từng bước tiếp cận trình độ thế giới.

Đây là những tiền đề KHCN vững chắc để ngành GTVT tiếp tục triển khai ứng dụng cho những công trình, sản phẩm GTVT có quy mô lớn hơn, mức độ phức tạp cao hơn trong thời gian tới đây.Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng đã thay mặt Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ GTVT biểu dương và đánh giá cao những cống hiến, những thành tích và hiệu quả hoạt động KHCN góp phần vào sự nghiệp phát triển ngành GTVT của các chuyên gia, các nhà khoa học, các cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý trong và ngoài ngành ở những năm trước đây và giai đoạn 2005-2010 vừa qua.

Những thành tựu đạt được của công tác KHCN ngành GTVT giai đoạn 2005-2010 vừa qua là cơ bản và rất đáng ghi nhận, đồng thời qua Hội nghị này cũng đã chỉ ra được những bài học kinh nghiệm quý báu để khắc phục những tồn tại, vượt qua những thách thức để tiếp tục đẩy mạnh phát triển KHCN của Ngành.

Cần tập trung vào các vấn đề trọng điểm

Để đáp ứng nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và phát triển ngành GTVT hiện đại, đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, bền vững, an toàn, thân thiện môi trường, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế, Bộ trưởng chỉ đạo: Trong thời gian tới cần tiếp tục nâng cao hơn nữa vai trò của hoạt động KHCN trong ngành GTVT, tập trung vào các vấn đề trọng điểm.

Một là, định hướng chiến lược cho hoạt động KHCN giai đoạn 2011-2015 bằng cách tăng tỷ trọng đóng góp của KHCN trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của ngành GTVT.

Ưu tiên chủ động tiếp cận, nghiên cứu triển khai ứng dụng, tiếp nhận chuyển giao các công nghệ tiên tiến, phát triển sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao phục vụ phát triển hệ thống GTVT hiện đại, chất lượng, hiệu quả cao, thân thiện môi trường; Tiếp tục tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm, công trình giao thông đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và bền vững các lĩnh vực của ngành GTVT.

Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng trao Bằng khen cho các tập thểcó thành tích xuất sắc về KHCN ngành GTVT giai đoạn 2005-2010

Công tác này phải được thực hiện đồng bộ, có hệ thống từ quy hoạch, lựa chọn công nghệ, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quản lý khai thác, vận hành sau đầu tư.

Hai là, cần tập trung vào một số vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa có tính cơ bản lâu dài liên quan vai trò của KHCN đối với sự phát triển của Ngành. Đó là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện về tổ chức, quản lý và cơ chế hoạt động KHCN.

Tăng cường hơn nữa vai trò của KHCN trong tăng năng suất, hạ giá thành, quản lý chất lượng công trình xây dựng, sản phẩm công nghiệp giao thông, chất lượng dịch vụ vận tải, ATGT và bảo vệ môi trường.

Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHCN trong quản lý, khai thác, bảo trì, sản phẩm công nghiệp, hệ thống kết cấu hạ tầng GTVT; Ứng dụng KHCN tăng cường hiệu quả đối với các dự án phát triển GTNT và miền núi; Đổi mới công nghệ đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực và năng lực hoạt động KHCN của Ngành.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh: Tôi tin tưởng rằng từ kết quả của Hội nghị này các hoạt động KHCN sẽ phát huy tốt các thành tích và kết quả trong thời gian qua, thực hiện tốt các nhiệm vụ đã được hoạch định trong chiến lược phát triển KHCN của ngành GTVT đến năm 2020, lộ trình và giải pháp thực hiện đến năm 2015, góp phần vào việc hoàn thành chiến lược tổng thể phát triển ngành GTVT đến năm 2020 đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH đất nước.

Nhân dịp này, 14 tập thể và 8 cá nhân đã được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 27 tập thể và 57 cá nhân được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GTVT vì đã có những thành tích xuất sắc trong hoạt động KHCN giai đoạn 2005-2010, 05 doanh nghiệp cũng đã được Bộ GTVT ghi nhận và tuyên dương có những đóng góp trong sự phát triển hoạt động KHCN ngành GTVT.

4 nhóm giải pháp tổng thể phát triển KHCN GTVT giai đoạn 2011-2015

- Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và nhận thức của các cấp, của mọi người đối với hoạt động khoa học công nghệ: Tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương, từ các doanh nghiệp đến người lao động và trong toàn xã hội về vị trí, vai trò của KHCN đặc biệt là trong việc gia tăng giá trị, năng suất, chất lượng sản phẩm, công trình GTVT. Tăng cường chỉ đạo phối hợp liên ngành trong hoạt động khoa học công nghệ.- Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trong ngành GTVT: Xây dựng hệ thống chính sách và cơ chế để bổ sung kịp thời đội ngũ cán bộ KHCN kế cận và đặc biệt chú trọng phát hiện và thu hút các chuyên gia có trình độ cao làm việc trong các cơ quan, đơn vị trong ngành GTVT; Sắp xếp các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng KHCN, khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực.- Ban hành các chính sách cơ chế để phát triển thị trường KH&CN trên tinh thần của Luật Khoa học và Công nghệ: Thực hiện các cơ chế về quản lý kinh tế để ràng buộc và khuyến khích các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, chống độc quyền, khuyến khích cạnh tranh, ưu đãi về thuế, về vay tín dụng cho các doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ KHCN, cho phép doanh nghiệp tính vào chi phí sản xuất các chi phí nghiên cứu, triển khai đổi mới công nghệ; Tiếp tục triển khai thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động KHCN theo cơ chế doanh nghiệp KHCN, tạo lập thị trường công nghệ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005, Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 và Nghị định 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ, tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm; Tăng cường thông tin khoa học công nghệ, thông tin đại chúng và chuyên ngành, hình thành các trung tâm dịch vụ gắn giữa cung và cầu về công nghệ.- Tăng cường quản lý Nhà nước về khoa học công nghệ: Có chiến lược phát triển công nghệ cho từng ngành và lĩnh vực cụ thể; Tiếp tục đẩy mạnh công tác chuyển giao công nghệ và đào tạo, thực tập trong các dự án hỗ trợ kỹ thuật (TA), các dự án (ODA) từ các nước có nền công nghệ tiên tiến; Tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm, công trình giao thông bằng các quy trình công nghệ, hệ thống quản lý theo ISO.

H.L

.
.
.