Những tác động và kiểm soát ô nhiễm môi trường trong GTVT

Cập nhật, 14:44, Thứ Hai, 12/12/2011 (GMT+7)

TS. Chu Mạnh Hùng, ThS. Nguyễn Hữu Tiến, KS. Nguyễn Thu Hằng

Bên cạnh những đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển của đất nước, hoạt động GTVT với 3 lĩnh vực: khai thác vận tải, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, sản xuất công nghiệp cũng có những tác động nhất định đến môi trường.

Từ những tác động xấu

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2007, số lượng ô tô và xe máy tăng nhanh tại các đô thị đã tạo áp lực lớn đối với chất lượng môi trường không khí do có liên quan đến việc tiêu thụ nhiên liệu xăng, dầu.

Khói xe là một trong những nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường
Khói xe là một trong những nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường

Trong đó phương tiện tiêu thụ xăng là nguồn phát thải nhiều khí ô nhiễm như CO2, CO, NOx, hơi CmHn, bụi chì, benzen và bụi PM 2,5 còn các phương tiện sử dụng dầu diesel lại là nguồn chủ yếu phát thải các tác nhân gây ô nhiễm như bụi PM10 và PM 2,5; các khí thải CO2, CO, SO2, NOx.Do hệ thống đường giao thông ở các đô thị lớn có mật độ thấp, cường độ dòng xe lớn, đường hẹp, nhiều giao cắt, chất lượng đường kém, phân luồng hạn chế, luôn phải thay đổi tốc độ, dừng lâu nên lượng khí độc hại (CO, SO2, NO2, CmHn), bụi, khói, tiếng ồn do xe thải ra rất lớn.

Ngày 06/6/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 855/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động GTVT”.

Trong đó có các nhiệm vụ cơ bản như: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, bộ máy quản lý về bảo vệ môi trường trong GTVT; Kiểm soát chất thải do hoạt động GTVT; Tuyên truyền, đào tạo nâng cao năng lực quản lý về môi trường trong GTVT; Ứng dụng KHCN trong GTVT nhằm kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trong hoạt động GTVT.

 

Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng... trung bình ngày ở các nút giao thông cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3-5 lần và nồng độ khí CO, NO2 trung bình ngày ở một số nút giao thông lớn đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2-1,5 lần.

Đối với lĩnh vực đường sắt, kết quả khảo sát tại một số nơi cho thấy, hoạt động của các đoàn tàu hỏa có thể gây ra mức ồn vượt tiêu chuẩn cho phép với giá trị trung bình trên đầu máy dao động từ 80-102 dBA và dọc hai bên đường sắt là 80-91dBA.

Tại một số cảng hàng không quốc tế, vào thời điểm máy bay cất, hạ cánh mức ồn tại khu vực sân đỗ và hai đầu đường cất hạ cánh khá cao, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20-30 dBA. Tuy nhiên, tiếng ồn có cường độ cao chỉ phát sinh trong khoảng thời gian ngắn nên thời gian tiếp xúc với mức ồn cao của những người làm việc ở các vị trí này không nhiều.

Nguy cơ gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng môi trường nước là hoạt động của các loại tàu sông, biển trong đó ô nhiễm dầu là một trong những vấn đề nổi cộm trên hầu hết các tuyến sông và cảng biển không chỉ đối với nước ta mà đối với tất cả các nước khác trên thế giới. Các vụ tràn dầu tại các cảng biển và trên các tuyến giao thông thủy nội địa thường gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường khu vực xảy ra tai nạn.

Tác động đến môi trường do hoạt động phát triển kết cấu hạ tầng giao thông có thể thấy rõ nhất là tác động đến không khí với nguồn phát thải bụi từ các hoạt động đào, đắp, vận chuyển nguyên vật liệu. Ngoài ra, quá trình cải tạo, nâng cấp các tuyến giao thông thủy lại là nguy cơ làm tăng độ đục của nước, thay đổi giá trị pH của nước, gây phèn hóa và tăng khả năng xâm nhập mặn.

Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý đến bùn đáy từ các hoạt động nạo vét vì trong đó thường có kim loại nặng, là nguy cơ gây phèn và axit hóa đất tại các bãi chứa. Cũng như các cơ sở sản xuất, dịch vụ khác, hoạt động của các cơ sở công nghiệp GTVT cũng làm phát sinh các loại chất thải có khả năng gây ô nhiễm môi trường. Các loại chất thải chủ yếu từ hoạt động công nghiệp GTVT là kim loại nặng, phế liệu chứa polyme, cao su và chất thải lẫn dầu, mỡ, sơn.

Đến những giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường

Nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong ngành GTVT, thời gian qua, bộ máy quản lý môi trường của Ngành đã được củng cố và phát triển. Thực hiện Nghị định số 81/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, năm 2008, Bộ GTVT đã thành lập Vụ Môi trường.

Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng... trung bình ngày ở các nút giao thông cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3-5 lần và nồng độ khí CO, NO2 trung bình ngày ở một số nút giao thông lớn đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2-1,5 lần.

Tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam và các cục quản lý chuyên ngành đã bố trí cán bộ theo dõi và thực hiện công tác bảo vệ môi trường thuộc Phòng KHCN. Một số Ban QLDA đã có cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm để triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các dự án.

Các cơ quan này đó tích cực tham mưu triển khai công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý môi trường trong nhiều lĩnh vực hoạt động của Ngành như Chương trình hành động của Bộ GTVT về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; xây dựng 3 đề án trình Thủ tướng Chính phủ về kiểm soát khí thải mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố; quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe ôtô, mô tô hai bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới; Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động GTVT; xây dựng và ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải môtô, xe gắn máy, ô tô sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới; Chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường; Thông tư quy định về bảo vệ môi trường trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, quy định về quản lý các nhiệm vụ môi trường trong ngành GTVT sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước, biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả... và nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành khác để hướng dẫn các đơn vị thực hiện công tác bảo vệ môi trường. 

Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng đã được thực hiện thường xuyên và đi vào nền nếp với nhiều hình thức phong phú: tổ chức hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo, tập huấn; lồng ghép vào chương trình, giáo trình đào tạo tại các trường; biên soạn và xuất bản sách, sổ tay; tổ chức kiểm tra các đơn vị về việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường kết hợp hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện công tác bảo vệ môi trường; tuyên truyền trên báo viết, báo mạng (trang web moitruong.mt.gov.vn, www.giaothongvantai.gov.vn, www.laixesinhthai.com); xây dựng phim tài liệu phát trên kênh truyền hình phổ biến chủ trương kiểm soát khí thải môtô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố lớn; xây dựng kịch bản phát trên VOV tuyên truyền về lái xe sinh thái...

Hoạt động khảo sát, chuyển giao, ứng dụng công nghệ bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng đã được đẩy mạnh: xây dựng mô hình xử lý chất thải bằng công nghệ sinh học nhanh trên một số đoàn tàu điểm; ứng dụng thí điểm hệ thống đèn đường, đèn báo hiệu trên luồng giao thông đường thủy nội địa sử dụng năng lượng mặt trời; thiết kế và chế tạo thử nghiệm hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho tàu thủy, lò đốt rác trang bị cho các tàu biển Việt Nam, nồi hơi tận dụng nhiệt khí xả trên tàu thủy nhằm tiết kiệm nhiên liệu; xây dựng hệ thống quản trị và cơ sở dữ liệu quản lý khí thải của tàu bay Việt Nam khi vào châu Âu; áp dụng thí điểm công nghệ tường chống ồn đối với công trình giao thông đường bộ khu vực đô thị; sử dụng nhiên liệu khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), khí tự nhiên nén (CNG) cho phương tiện giao thông công cộng ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và trên tàu thủy cỡ nhỏ; áp dụng công nghệ tiên tiến để thu gom và xử lý chất thải tại các bệnh viện GTVT...

Kiến thức môi trường

Phát triển hệ thống GTVT bền vững, thân thiện môi trường

Nhằm hướng tới hệ thống GTVT bền vững, thân thiện môi trường, từ nay đến năm 2015 ngành GTVT cần hoàn thành nhiều mục tiêu sau. Trước hết là cần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho cán bộ chủ chốt ngành GTVT. Các doanh nghiệp công nghiệp thuộc ngành GTVT có hệ thống quản lý môi trường và thực hiện các biện pháp quản lý, xử lý chất thải phù hợp với từng loại hình hoạt động theo các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cũng cần thực hiện lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Không chỉ vậy, việc tăng cường trang thiết bị thu gom, xử lý chất thải do hoạt động GTVT theo quy định của pháp luật cũng cần được đẩy mạnh. Việc hoàn thiện bản đồ tiếng ồn đối với 50% cảng hàng không, sân bay; đề xuất phương án giảm thiểu ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn do hoạt động vận tải hàng không; Tổ chức phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại các bệnh viện, phòng khám ngành GTVT theo Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế cũng cần được thực hiện nghiêm túc.

P.V

 

.
.
.