Vinalines yếu kém trong dự báo, nóng vội trong đầu tư

Cập nhật, 08:28, Thứ Sáu, 11/05/2012 (GMT+7)

Phản hồi xung quanh những thông tin về việc đầu tư dàn trải, kinh doanh thua lỗ, đại diện Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) cho rằng, ngoài những nguyên nhân khách quan, còn có nguyên nhân chủ quan do sự yếu kém trong công tác dự báo thị trường của TCT dẫn đến sự nóng vội trong đầu tư phát triển đội tàu.

Tỷ lệ nợ bằng 4,27 lần vốn điều lệ

Kết luận của Thanh tra Chính phủ về việc chấp hành pháp luật trong công tác quản lý và sử dụng vốn, tài sản tại Vinalines giai đoạn 2007-2010 cho thấy, Tổng công ty đã tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển đội tàu, hệ thống cảng biển và dịch vụ hàng hải. Hoạt động đầu tư đã đạt được một số kết quả như tăng thêm số lượng tàu biển, tăng năng lực hoạt động vận tải,bốc xếp hàng hóa...

Vinalines thừa nhận có nóng vội trong đầu tư phát triển đội tàu
Vinalines thừa nhận có nóng vội trong đầu tư phát triển đội tàu

Tuy nhiên, Thanh tra Chính phủ cũng cho rằng, quá trình thực hiện đầu tư của Vinalines còn một số hạn chế là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nợ của Vinalines bằng 4,27 lần vốn điều lệ (trong khi mức cho phép là không quá 3 lần), chiếm 75,6% tổng tài sản. Khả năng thanh toán giảm mạnh, hiệu quả kinh doanh giảm dần do phải tăng chi phí về lãi vay, chi phí quản lý và khối lượng lớn vốn đầu tư chưa có hiệu quả.

Kết quả thanh tra cho thấy từ năm 2005 - 2010, Vinalines đầu tư mua 73 tàu, đa số các tàu mua là của nước ngoài, đã qua sử dụng, với năng lực vận tải 2.004.961 DWT, tổng số vốn là 22.853 tỉ đồng. 85% vốn mua tàu là vay thương mại, thậm chí dự án mua tàu Sky, Ocean, Global sử dụng 100% vốn vay... Hầu hết các dự án mua tàu được lập sơ sài, nội dung và thực tế thực hiện không thống nhất. Dự án nào cũng nêu hiệu quả kinh tế cao, thời gian thu hồi vốn nhanh nhưng thực tế có 5/27 tàu đóng mới, 34/73 tàu mua về đưa vào khai thác lỗ, thậm chí có tàu lỗ nặng phải bán.

Cũng trong giai đoạn 2007 - 2010, Vinalines đã quyết định đầu tư 14 dự án xây dựng cảng gồm 1 cảng cạn, 1 cảng sông và 12 cảng biển. Tuy nhiên, hầu hết các dự án này sau khi được thanh tra đều phát hiện sai phạm trong việc quản lý việc thiết kế, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán và quản lý thi công các hạng mục công trình không chặt chẽ, trái quy định, làm tăng vốn đầu tư.

“Việc đầu tư mua tàu biển, đầu tư xây dựng cảng biển, cơ sở sửa chữa tàu biển chưa có sự tính toán kỹ đến các yếu tố tài chính, thị trường, dự án đầu tư thiếu căn cứ khoa học đều sử dụng vốn vay phát sinh chi phí lãi vay”, Thanh tra Chính phủ đánh giá. Cũng từ đây mà hiệu quả sử dụng vốn của Vinalines giảm mạnh. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu từ 14,15% năm 2007 đã giảm xuống còn -14,8% vào năm 2010.

Có nguyên nhân lớn từ khách quan

Đây là khẳng định của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam xung quanh những thông tin về việc kinh doanh kém hiệu quả của Tổng công ty giai đoạn 2007 - 2010. Phó Tổng giám đốc Vinalines, ông Lê Triêu Thanh cho biết, sự suy giảm đột ngột và kéo dài của thị trường vận tải biển từ nửa cuối 2008 đến nay đã ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của TCT. Giá cước vận tải biển giảm mạnh từ gần 14.000 điểm vào 7/2008 xuống còn gần 800 điểm vào cuối năm 2008 và duy trì mức thấp này trong suốt năm 2011.

Trong khi đó, chi phí đầu vào như nhiên liệu, chi phí lãi vay, sửa chữa, nhân công luôn ở mức cao. Có những thời điểm, TCT đã phải chấp nhận mức lãi suất 20%/năm để đảm bảo nguồn vốn lưu động duy trì hoạt động của đội tàu. “Không chỉ Vinalines mà nhiều hãng vận tải lớn trên thế giới như Maersk, NYK, China Shipping, MOL cũng đều phải thông báo kết quả kinh doanh lỗ. Thậm chí một số hãng phải quyết định chấm dứt hoạt động chạy tuyến do lỗ lũy kế quá lớn” - ông Thanh cho biết.

Về chủ quan, ông Thanh cũng thừa nhận trong giai đoạn phát triển nóng, chất lượng công tác dự báo thị trường của TCT chưa đạt yêu cầu dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của đội tàu. Mô hình tổ chức còn nhiều bất cập khiến công tác quản lý, kiểm tra giám sát chưa được thực hiện triệt để, chặt chẽ, vẫn còn tình trạng lãng phí, kém hiệu quả tại một số doanh nghiệp trong TCT.

Hà Linh

.
.
.