Việt Nam sẽ triển khai thực hiện bộ Quy chuẩn và Tiêu chuẩn kỹ thuật đường sắt

Cập nhật, 09:12, Thứ Tư, 25/02/2009 (GMT+7)

Cơ quan Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (JICA) cùng Hiệp hội Dịch vụ Kỹ thuật đường sắt Nhật Bản (JARTS) đang giúp Cục Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) xây dựng hệ thống Quy chuẩn và Tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành đường sắt. Phóng viên Báo GTVT đã phỏng vấn ông TAKEMURA Kiichi, Trưởng đoàn nghiên cứu JICA xung quanh vấn đề này.

PV: Chúng tôi được biết đây là một khối lượng công việc đồ sộ, xin ông cho biết hiện nay JARTS đang thực hiện những công việc cụ thể gì?

Ông Takemura Kiichi: Trước hết, cho phép tôi được giới thiệu đôi nét về tổ chức JARTS. Năm 1964, đường sắt cao tốc 200km/h đã được đưa vào khai thác tại Nhật Bản (tuyến Shinkansen) và trở thành tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên trên thế giới. Với thành tựu này, kỹ thuật đường sắt của Nhật Bản được đánh giá cao.

Nhật Bản đã được nhiều nước đề nghị hướng dẫn kỹ thuật, hợp tác kỹ thuật xây dựng đường sắt cao tốc. Tổ chức JARTS được thành lập theo chỉ đạo của Bộ Vận tải Nhật Bản (nay là Bộ Giao thông Đất đai và Cơ sở hạ tầng Nhật Bản) và Tổng công ty đường sắt Nhật Bản (nay là Tập đoàn đường sắt JR).

Hoạt động chính mà JARTS đang thực hiện bao gồm: Nghiên cứu dự án đường sắt của các nước; Phái cử chuyên gia đường sắt Nhật Bản tới các nước, đào tạo chuyên gia đường sắt của các nước đối tác; Tư vấn kỹ thuật đường sắt cho các nước (Hỗ trợ kỹ thuật xây dựng đường sắt cao tốc cho Đài Loan, tư vấn lập dự án xây dựng đường sắt cao tốc cho Việt Nam, tư vấn kỹ thuật xây dựng đường sắt đô thị cho các nước châu á, Trung cận Đông… Trong đó có việc tư vấn kỹ thuật cho tuyến đường sắt đô thị số 1 TP Hồ Chí Minh của Việt Nam; Nghiên cứu tổng hợp về đường sắt của các nước (soạn thảo tài liệu “KISS-Rail” hướng dẫn về khai thác đường sắt đô thị và Tiêu chuẩn "STRASYA" - thiết kế tiêu chuẩn đường sắt đô thị cho các nước châu á…

PV: Để biên soạn Quy chuẩn kỹ thuật đường sắt cũng như Tiêu chuẩn đường sắt đô thị cho VN, JARTS đã sử dụng nguồn tài liệu nào? Trong quá trình làm việc các ông có gặp khó khăn nào không? Nếu có thì đó là gì?

Ông Takemura Kiichi: Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật và Tiêu chuẩn quốc gia về ĐSVN lần này được soạn thảo dựa theo Quy chuẩn kỹ thuật đường sắt Nhật Bản và các văn bản quy định của ĐSVN (Luật Đường sắt, Quy trình, Quy phạm khai thác kỹ thuật đường sắt...), ngoài ra có tham khảo thiết kế đường sắt của các nước khác trên thế giới. Điểm chính của dự thảo này nhằm xây dựng đường sắt "Điện khí hóa" có tính an toàn cao như đường sắt đô thị sắp xây dựng.

Về các điểm vướng mắc, cán bộ đường sắt của VN chưa có kinh nghiệm thực tế về đường sắt điện khí hóa. Đường sắt là lĩnh vực có những tiến bộ kỹ thuật rõ rệt và có rất nhiều tiêu chuẩn thiết kế đường sắt trên thế giới. Quy chuẩn kỹ thuật về cơ bản quy định những nội dung đảm bảo an toàn nhưng vẫn yêu cầu phải có “tính mở” nhất định để ứng dụng kỹ thuật mới của đường sắt các nước. Chính vì vậy, theo xu hướng chung, Quy chuẩn thường là các nguyên tắc mang tính “quy định tính năng”.

Ban đầu, phía VN mong muốn Quy chuẩn quy định thiết kế bằng các chỉ số cụ thể nhưng sau đã cũng tán thành quan điểm nếu quy định quá nhiều chỉ số cụ thể trong Quy chuẩn kỹ thuật sẽ làm mất đi tính linh hoạt và loại trừ mất nhiều điểm khác. Đoàn nghiên cứu cũng băn khoăn liệu cứ nhất thiết phải đưa các chỉ số vào Quy chuẩn? Và nếu đưa vào thì chỉ số nào sẽ được đưa vào? Cuối cùng, Quy chuẩn vẫn theo hướng cơ bản là quy định các tính năng và đưa một phần các chỉ số quan trọng vào phụ lục của Quy chuẩn. Kết quả là Quy chuẩn kỹ thuật đã được hoàn thành với những nội dung có tính toán tới tình hình thực tế của ĐSVN.

PV: Ông đánh giá thế nào về kết quả và sự hợp tác của Cục Đường sắt VN cũng như các cơ quan liên quan khác?

Ông Takemura Kiichi: Quy chuẩn kỹ thuật này là bộ Quy chuẩn độc lập, hoàn hảo đáp ứng tình hình thực tế của VN. Bởi vì, Quy chuẩn này sẽ phát huy tác dụng khi xây dựng các dự án đường sắt đô thị sắp tới. Phạm vi áp dụng của Quy chuẩn này là toàn bộ đường sắt bao gồm cả các tuyến đường đơn, chưa điện khí hóa nên sẽ hữu ích cho tất cả các trường hợp cải tạo đường sắt hiện có. Bên cạnh đó, Tiêu chuẩn đường sắt đô thị được xây dựng tập trung vào loại hình có năng lực vận tải từ 30.000 người/ngày trở lên. Tiêu chuẩn này không có tính bắt buộc áp dụng nhưng chúng tôi cũng mong muốn nó sẽ có vai trò lớn khi nghiên cứu quy cách, thiết kế các tuyến metro sắp triển khai xây dựng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Nghĩa là một khi các quy cách- thiết kế đã được tiêu chuẩn hóa ở một mức độ nhất định thì không chỉ hạ tầng mang tính phần cứng mà khai thác quản lý mang tính phần mềm cũng sẽ hoạt động có hiệu quả và kết quả là sẽ trở thành hệ thống đường sắt có tiện ích cao thu hút được nhiều người sử dụng. Hơn thế, Tiêu chuẩn này cũng dễ dàng vận dụng hơn đối với cả chạy tàu liên tuyến giữa hai tuyến đường sắt đô thị hay khai thác chung giữa đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội trong tương lai.

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu chúng tôi đã nhận được rất nhiều dữ liệu, tài liệu quý bởi từ Cục Đường sắt VN, Bộ GTVT và các ban ngành liên quan. Phương thức triển khai công việc của chúng tôi là thành lập các tổ kỹ thuật (Technical Working Group) cho từng lĩnh vực chuyên môn để các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam cùng nhau xem xét, bàn luận để đi đến thống nhất.

PV: Ông có lời khuyên gì dành cho các chuyên gia đường sắt VN?

Ông Takemura Kiichi: Chúng tôi mong muốn VN sớm đưa bộ Quy chuẩn dự thảo này vào thực thi. Bởi vì trong quá trình triển khai xây dựng đường sắt tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nếu cứ tiếp tục để tình trạng không có Quy chuẩn kỹ thuật và Tiêu chuẩn làm căn cứ chuẩn mực thì các đơn vị khai thác-kinh doanh đường sắt sẽ thực hiện riêng rẽ, không đồng bộ, kém hiệu quả. Cuối cùng chúng tôi mong rằng bộ Quy chuẩn kỹ thuật này sẽ trở thành máu thịt của nền kỹ thuật đường sắt Việt Nam theo đúng nghĩa của nó.

PV: Xin cảm ơn ông.

Hồ Thu (Thực hiện)

.
.
.